Hiển thị các bài đăng có nhãn Ubuntu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ubuntu. Hiển thị tất cả bài đăng

26.8.11

Các cách Install một phần mềm tren linux

http://files.cyberciti.biz/cbzcache/3rdparty/fedora-logo.png
Có nhiều bạn khi lần đầu tiên đến với Linux cảm giác sự khó khăn và bất tiện của việc cài đặt các ứng dụng trên Linux, đặc biệt là các ứng dụng phải cài đặt từ mã nguồn như xine, openGL .v.v...
Trên Windows, bạn chỉ cần tải ứng dụng về, giải nén rồi click vào file setup là hòan tất việc cài đặt, nhưng trên Linux đó là một chuyện hòan tòan khác. Bài viết này sẽ nhằm mục đích hướng dẫn bạn các thao tác cài đặt các phần mềm ứng dụng trên Linux và cung cấp các kiến thức căn bản giúp bạn có thể quản lý hệ thống của riêng mình.
Bài viết sẽ giả sử rằng bạn đã biết cách sử dụng một số phần mềm quản lý gói như rpm. Để dễ dàng thì bài viết sẽ gọi các phần mềm trên Linux là các gói (package). Thực tế tên gọi 'gói' đúng đắn hơn vì các gói trên Linux có thể không phải là một trình ứng dụng nào đó mà chỉ là các thư viện nền như thư viện đồ họa Gtk+ hoặc OpenGL .v.v...

1. Giới thiệu
Bạn có thể sẽ tự hỏi rằng tại sao các phần mềm trên Linux không tự đóng gói sẵn cho chúng ta rồi khi xuất bạn chỉ cần tải về và cài đặt nó. Câu trả lời nằm ở 2 vấn đề, vấn đề thứ 1 là các phần mềm viết trên Linux không hẳn chỉ có thể chạy trên Linux mà có thể chạy trên nhìều hệ thống khác nhau trong họ Unix như Solaris, AIX, HP-UX .v.v.. thậm chí các phần mềm đó có thể chạy trên rất nhiều vi xử lý khác nhau như Intel, Motorola, PPC .v.v... Có được sự đa năng đó là nhờ vào tính đa nền (portable) của ngôn ngữ C/C++ nhưng đòi hỏi chúng ta phải biên dịch lại phần mềm từ mã nguồn cho hệ thống mà chúng vận hành. Bạn sẽ tự hỏi là tại sao các nhà phát triển lại không biên dịch sẵn cho chúng ta trên hệ thống thông dụng nào đó như Linux chẳng hạn.

Câu trả lời là bởi vì các phần mềm này là phần mềm mã nguồn mở Smiling và các nhà phát triển không có cách gì hơn là để lại phần biên dịch cho chúng ta. Tuy nhiên bạn đừng thất vọng vì có một số nhà phát triển rất là tốt bụng có thể biên dịch sẵn cho chúng ta ra các gói có dạng rpm và cùng với sự hỗ trợ của công ty Red Hat chúng ta cũng đã có những chương trình quản lý các phần mềm hiệu quả không kém gì trên Windows như RPM (Redhat Package Manager). Mặc dù là thế nhưng không phải lúc nào các gói mới nhất từ các nhà phát triển gốc đều có phiên bản biên dịch sẵn mà thường là một khỏang thời gian sau các phiên bản đó mới có được dưới
dạng biên dịch sẵn. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nhà phát triển không hề biên dịch sẵn sản phầm của mình mà đòi hòi người dùng phải biên dịch, điển hình là trình chơi phim và nhạc xine. Các gói biên dịch sẵn các bạn có từ xine đa số là từ các nhà phát triển khác. Do đó nếu bạn không bạn không biết cách cài đặt các gói từ nguồn là một trở ngại rất lớn cho việc hiểu và quản trị hệ thống của riêng mình.

2. Căn bản của việc cài đặt
Điều đầu tiên khi bạn tiến hành cài đặt là bạn phải có mã nguồn của gói đó trước. Hãy lên mạng search bất kì gói nào bạn thích như thư viện Gtk+ hoặc Gnome .v.v... Sau khi tải về, thông thường có dạng là .gz hoặc .bz2, đây đều là 2 chuẩn nén khác nhau, sau khi giải nén bằng gunzip cho gz hoặc bunzip2 cho bz2 thì các gói sẽ có dạng mới là tar, cũng là một chuẩn nén khác, bạn có thể giải nén bằng lệnh, tar -xvf ... Thế nhưng đế dễ dàng và tiết kiệm dung lượng ổ đĩa thì chúng ta có thể gộp các câu lệnh đó thành 1 như sau:

- Đối với gói .gz:
Code:
# tar -zxvf tengoi.gz

- Đối với gói .bz2:
Code:
# tar -jxvf tengoi.bz2

Sau khi giải nén xong và tìm tập tin INSTALL để đọc cụ thể cho phần hướng dẫn cài đặt. Thế nhưng hầu như các gói đều tuân theo các thao tác tuần tự sau:

Code:
# ./configure
# make
# make install

Chỉ có vài gói đặc biệt sẽ có riêng cách cài đặt nhưng khi bạn đã nắm vững nguyên tắc chung thì dù là cách thức nào bạn cũng có thể xoay xở được. Chúng ta hãy xét đến câu lệnh đầu tiên,
Code:
./configure

... Thực chất configure là một shell script sẽ kiểm tra những yêu cầu của hệ thống của bạn có đáp ứng đủ để cài đặt gói lên không, ví dụ như một số gói đòi hỏi bạn phải có sẵn thư viện đồ họa Gtk 2.4 trở lên hoặc là thư viện để giải nén nhạc Mp3..v.v... Rất nhiều gói có sự phụ thuộc như thế chứ các gói khi tải về không hề có sẵn các gói tương ứng cần thiết cho nó. Khi bạn chạy configure xong kết quả sẽ cho bạn biết các gói nào cần thiết để cài đặt. Nhiệm vụ của bạn không gì hơn là phải tìm các gói phụ thuộc đó cài lên máy rồi mới tiếp tục việc cài đặt. Nếu như hệ thống của bạn thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu để cài đặt thì các Makefile sẽ được tạo ra. Makefile là một file đặc biệt của tiện ích make nhằm hướng dẫn biên dịch mã nguồn của gói ra dạng thực thi. Sau khi bạn thực thi lệnh 'make' xong thì tòan bộmã nguồn của gói đã được biên dịch sang dạng thực thi nhưng các file thực thi vẫn còn nằm trên thư mục hiện hành. Do đó bạn cần phải thực hiện thêm lệnh 'make install' để chép các file thực thi đó sang đúng vị trí của nó trên hệ thống. Nếu như không có thông báo lỗi gì xảy ra thì bạn đã hòan tất việc cài đặt gói lên hệ thống của mình.

3. Tổ chức các file trên hệ thống
Bạn hòan tòan biết thư mục trên Linux thì thư mục /usr là thư mục quan trọng nhất vì nó sẽ chứa các chương trình và hàm thư viện trên đó. Trong thư mục /usr/bin là sẽ chứa các file thực thi cho các gói bạn đã cài đặt trên máy, các file trong thư mục này bạn sẽ thấy các file rất quen thuộc như mozilla, gedit .v.v... Thư mục /usr/lib sẽ chứa các hàm thư viện, bạn sẽ thấy rất nhiều files có phần mở rộng là .so (shared object) là các hàm thư viện liên kết động hoặc .a (archive) hoặc .la đều là các hàm thư viện liên kết tĩnh. Đặc tính căn bản của 2 dạng thư viện này là hàm thư viện liên kết tĩnh sẽ được liên kết thẳng với files thực thi luôn trong quá trình liên kết, còn hàm thư viện liên kết động thì sẽ được liên kết trong quá trình thực thi, cho nên sau khi chương trình đã được biên dịch và liền kết rồi các thư viên tĩnh chúng ta có thể bỏ đi nhưng thư viện liên kết động thì bắt buộc phải đi kèm với chương trình. Thư mục /usr/share sẽ chứa các icon, manual hoặc info của gói.

4. Lọai bỏ một gói
Nếu bạn mong muốn lọai bỏ một gói đã cài đặt trên hệthống thì cách duy nhất là bạn phải vào lại thư mục mã nguồn của gói và gõ lệnh
Code:
'make uninstall'

... thông thường bạn sẽ có các câu lệnh sau: 'make clean' 'make
distclean' ... Các câu lệnh có ý nghĩa rất tương đối và được định nghĩa trong tập tin Makefile, nên đầu tiên bạn cứ thử với 'make uninstall' rồi
Code:
'make clean'

cái cuối cùng
Code:
'make distclean'

là giúp bạn xóa hết các tập tin đã biên dịch ở thư mục nguồn và đồng thời xóa Makefile, bạn phải chạy lại ./configure để tạo lại Makefile.

5. Quản lý các gói
Do việc xóa bỏ một gói như trên rất là phiền phức đôi lúc bạn chẳng thể xóa bỏđược nếu như mất đi mã nguồn, cho nên bạn có thể thay vì cài nó vào thư mục mặc định là /usr thì bạn có thể cài vào các thư mục của riêng bạn, ví dụ như bạn có thể tạo thư mục '/soft' ... Sau đó để cài gói gedit thì bạn tạo thêm thư mục /soft/gedit và dùng lệnh ./configure ... bạn thêm tùy chọn sau:
Code:
./configure --prefix=/soft/gedit

thì khi bạn gõ
Code:
make install

sẽ copy tòan bộ sang thư mục /soft/gedit .. Khi bạn muốn xóa tòan bộ gói thì chỉ đơn giản xóa đi thư mục đó thôi. Lưu ý là khi bạn cài vào thư mục riêng của mình rồi bạn phải tạo 2 đường dẫn cho 2 biến mội trường (environment variable) LD_LIBRARY_PATH và PKG_CONFIG_PATH ...LD_LIBRARY_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục lib của gói vừa tạo (ví dụ như /soft/gedit/lib) còn PKG_CONFIG_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục pkg_config trong thư mục lib (ví dụ như /soft/gedit/lib/pkg_config) .. Bên cạnh đó nếu bạn muốn chương trình gọi tự động thì bạn cũng nên thêm vào biến PATH cho gói của mình.

6. Lời kết
Đối với cách cài trên thì bạn dể dàng quản lý các gói của mình nhưng đối với các dạng thư viện thì bạn nên cài nó vào thư mục /usr hơn là thư mục riêng của mình vì một số gói sẽ tìm các thư việc trên thư mục mặc định /usr và /usr/local hơn là các thư mục riêng người dùng nên nếu bạn cài lên thư mục riêng thì đôi lúc các thư viện đó sẽ không được tìm ra. Thông thường lênh ./configure đi đôi với rất nhiều tùy chọn cho phép bạn lựa chọn nhiều tính năng khác nhau, bạn hãy gỏ ./configure --help để mà biết đầy đủ các tùy chọn của gói.


b>Instal bằng rpm
Có thể thì hầu hết các gói rpm qua site : rpmseek.com , findrpm.com or google.com.com
Cơ bản về rpm
--version:hiện thị ver đang sử dụng
--quiet:hiện thị lỗi khi installl
-v:hiện thị quá trình install
i|--install: install 1 patket :
ex :#rpm -ivh x-unikey-0.9.2-1.i586.rpm
-e :uninstall
ex:#rpm -e x-unikey
rpm -Uvh :nâng cấp
#rpm -Uvh x-unikey-0.9.2-1.i586.rpm
Nói chung việc install bằng rpm đơn giản hơn so với tư mã nguồn rất nhiều


c>Install online bằng cách sử dụng yum (fc)
download gói freshrpms-release-1.1-1.fc.noarch.rpm tại ftp.freshrpms.net/pub/freshrpms/fedora/l...-1.1-1.fc.noarch.rpm Download: freshrpms.net/packages/RPM-GPG-KEY.txtapt.sw.be/dries/RPM-GPG-KEY.dries.txt
vào thư mục /home/yourname/key
install
Trích:
#rpm -ivh freshrpms-release-1.1-1.fc.noarch.rpm
Mở một trình soạn thảo văn bạn ưa thích của bạn (nhớ mở với account root)
+ Tạo file macromedia.repo lưu vào thư mục /etc/yum.repos.d/ với nội dung:
Trích:
[macromedia]
name=Macromedia for i386 Linux
baseurl=macromedia.rediris.es/rpm/
enabled=1
gpgcheck=1
gpgkey=macromedia.mplug.org/FEDORA-GPG-KEY
Tạo file dries.repo lưu vào thư mục /etc/yum.repos.d/ với nội dung:
Code:
[dries]
name=Extra Fedora rpms dries - $releasever - $basearch
baseurl=ftp.belnet.be/packages/dries.ulyssis.org/fedora/linux/$releasever/$basearch/dries/RPMS/
enabled=1
gpgcheck=1

Bước 3:
Gõ lệnh sau với account root để import GPG key cho freshrpms và dries repository.
Code:
cd /home/yourname/key
rmp --import *.txt

Vậy là từ nay bạn có thể cài đặt các phần mềm cho hệ thống của mình dễ dàng hơn khi online, trình yum sẽ tự động detect ra các dependecies của phần mềm.

hai chức năng cơ bản của yum:
Code:
yum -y install application
yum -y update application

nếu bạn muốn update cho hệ thống gõ lệnh:
Code:
yum -y update

để hiểu rõ về cách dùng yum bạn xem them manual của nó:
Code:
man yum

Nguồn: Internet

14.8.11

Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D-com 3G Viettel

Tình hình là hiện nay Viettel bắt đầu cung cấp cho khách hàng các mẫu modem USB (USB 3G) mới đó là các dòng MFxxx. Điều này gây không ích khó khăn trong quá trình cài đặt cho những ai sử dụng Ubuntu. Mình đã gặp không ít khó khăn và cũng đã phải đổ không ít công sức ra để tìm giải pháp cho vấn này. May mắn là mình đã tìm được cách giải quyết vấn đề này. Hôm nay mình sẽ chia sẻ với các bạn cách để sử dụng modem USB ZTE MFxxx trong Ubuntu. Thực ra thì có hai cách, một cách thì cài phần mềm giống như bên Win vậy rồi mỗi lần lên mạng cứ phải chạy phần mềm đó, trong phần mềm đó cũng có sẵn tiện ít gọi điện thoại và nhắn tin luôn (chỉ có điều tính năng gọi bị Viettel khóa rồi nên có chỉ để trang trí); cách kia thì là một mẹo nho nhỏ, cắm modem USB vô chọn network là xong, chạy lên mạng bình thường. Ở đây mình hướng dẫn đơn giản để ai cũng dễ làm và trực quan, còn với mấy pro xài Ubuntu lâu chắc tải về là biết cách xài rôi, nên nếu thấy thừa thì bỏ qua phần này nhé!
  1. Cách 1:
  2. Cắm modem usb vào, sau đó vào terminal gõ lsusb xác định Vender ID và Product ID. Chú ý cái dòng tương tự thế này
  3. Bus 001 Device 006: ID 19d2:0108 ONDA Communication S.p.A. Trong đó Vender ID là: 19d2 và Product ID là 0108.
  4. Vào terminal chạy sudo nautilus để chạy nautilus với vai trò root, rồi vào thư mục /etc/ tạo một folder mới tên udev.d/, trong thư mục này tạo một file 15-zte-mfxxx.rules (tùy theo modem mà thay đôỉ thông số xxx nhé, mà không thay đổi cũng không sao, thay đổi để sau này biết đường mà lần). Mở file bằnggedit paste cái này vào
  5. ACTION!=”add”, GOTO=”ZTE_End” # Is this the ZeroCD device? SUBSYSTEM==”usb”, SYSFS{idProduct}==”2000″, SYSFS{idVendor}==”19d2″, GOTO=”ZTE_ZeroCD” # Is this the actual modem? SUBSYSTEM==”usb”, SYSFS{idProduct}==”0108″, SYSFS{idVendor}==”19d2″, GOTO=”ZTE_Modem” LABEL=”ZTE_ZeroCD” # This is the ZeroCD part of the card, remove # the usb_storage kernel module so # it does not get treated like a storage device RUN+=”/sbin/rmmod usb_storage” LABEL=”ZTE_Modem” # This is the Modem part of the card, let’s # load usbserial with the correct vendor # and product ID’s so we get our usb serial devices RUN+=”/sbin/modprobe usbserial vendor=0x19d2 product=0×0108″, # Make users belonging to the dialout group # able to use the usb serial devices. MODE=”660″, GROUP=”dialout” LABEL=”ZTE_End”
    Chú ý mấy phần màu đỏ (Vender ID) và màu cam (Product ID) mà các bạn đã tìm thấy ở bước trên.
  6. Vào Synaptic Package Manager tìm vài cài wvdial hoặc ppp
  7. Save file lại rút USB ra.
  8. Vô System > References > Network connections chọn tab Mobile Broadband và làm như trong hình:
  9. selection018 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel selection019 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel selection021 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel selection022 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel selection023 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel
  10. Cắm USB vô, đợi tí cho máy nhận. Click lên network applet ở bên trên chọn Viettel Mobile D-Com 3G. Đợi tí là có thể lên mạng
  11. menu018 Truy cập Internet trên Ubuntu với USB D com 3G Viettel
Lưu ý các bạn là các bạn có thể dùng sim có kết nối GPRS để lên mạng. Nếu hết tiền thì cứ đổi sim thường có GPRS để lên mạng nhé. Nhưng phải tạo thêm một kết nối. Quan trọng là ở bước Choose your Billing Plan các bạn chọn Mobile Internet là xong. Như các bạn thấy trong hình, kết nối Viettel Mobile Mobile Internet1 là kết nối dùng sim có GPRS.
  • Cách 2: Sử dụng D-com 3G

  • Mình thường dùng cái này để kiểm tra tài khoản và nhắn tin, cũng khá tiện, nhưng có cái bất tiện là nếu dùng nó thì mỗi lần lên mạng là phải chạy một phần mềm. Như thế bất tiện lắm phải không. Chính vì vậy mình không thường sử dụng nó.
    1. Trước hết các bạn vào đây tải về
    2. Giải nén file vừa tải về xong được thư mục Linux. Vào thư mục Linux tiếp tục giải nén filePCL_VIEVN.tar.gz sẽ ra folder PCL_VIEVN.
    3. Sau đó gõ sudo nautilus để quản lý với file với vai trò root. Quay trở lại folder PCL_VIEVNhồi nảy, open file install.sh. Cửa sổ hiện ra chọn Run in terminal. Đợi tí là xong. Xong nó sẽ chạy D-com 3G với vai trò root. Bạn có thể để nó chạy chơi cũng được hoặc tắt đi rồi ra ngoài với vai trò user bình thường xài cho nó an toàn. Vậy là xong.Chú ý: Dùng cái này lên mạng, gọi cho 900 để kiểm tra tài khoảng + nhắn tin thì ok.
    Nguồn: Internet

    Cài USB 3G cho UBUNTU

    Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu cách thiết lập kết nối USB 3G trên ubuntu 10.04, dịch vụ truy nhập Internet băng rộng từ máy tính thông qua thiết bị USB HSPA/HSDPA có gắn SIM 3G. Khi sử dụng dịch vụ này, thuê bao có thể truy cập Internet với tốc độ cao qua sóng di động 3G.
    Đối với người dùng xài windows, trong usb 3g có sẵn driver, chỉ cần cài đặt là sử dụng kết nối internet được dễ dàng.
    Đối với người dùng là linux, unix, Viettel không có tài liệu chỉ dẫn về driver, …

    1. Tậu một usb 3g

    Các bạn có thể liên lạc với các đại lý bán hàng của Viettel để sở hữu modem 3g usb
    các bạn có thể tham khảo tại đây: http://viettelonline.com/3g-usb/usb-3g

    2. Cấu hình

    1. Tham khảo tại đây để biết được usb của bạn đã được hỗ trợ driver: https://wiki.ubuntu.com/NetworkManager/Hardware/3G
    2. Cắm usb-3g vào máy tính
      - từ command line, gõ lsusb
    $ lsusb
    Bus 002 Device 006: ID 12d1:1001 Huawei Technologies Co., Ltd. E620 USB Modem
    ..
    - Nếu kết quả hiển thị có dòng “USB Modem ” thì máy bản đã nhận đúng thiết bị, thường thì ban đầu, ubuntu chỉ nhận usb của bạn là 1 usb storage bình thường:
    $ lsusb
    Bus 002 Device 006: ID 12d1:1446 Huawei Technologies Co., Ltd.
    - Để ubuntu nhận ra usb-3g là modem, thêm script sau để mỗi khi cắm usb-3g vào, hệ điều hành load đúng driver thiết bị
    $ sudo vi /etc/udev/rules.d/15-huawei-e1550.rules
    SUBSYSTEM=="usb",
    SYSFS{idProduct}=="1446",
    SYSFS{idVendor}=="12d1",
    RUN+="/lib/udev/modem-modeswitch --vendor 0x12d1 --product 0x1446 --type option-zerocd"
    - Trong đó, 12d1 là Vender ID của Huawei, 1446 là product id, các số này hiển thị khi gõ lệnh lsusb ở trên.
    - Rút usb-3g(nếu đang cắm vào máy) và cắm vào lại để hệ thống nhận đúng usb-3g
    1. Cấu hình:
      1. chọn: system > References > Network connections
      2. chọn tab "Mobile Broadband”, click Add
      3. chọn cấu hình theo hình dưới:


    Chọn NetworkManager Applet 0.8 góc trái màn hình, chọn "Viettel Mobile connection” để kết nối internet.
    Nguồn: Internet

    25.7.11

    Sau khi cài UBUNTU

    Sau khi cài Ubuntu, nên sử dụng các lệnh sau trước khi cài đặt các gói chương trình khác:

    1. Chạy Terminal bằng cách sử dụng tổ hợp phím Ctrl + Alt + T.
    2. Cập nhật source.list sử dụng lệnh: sudo apt-get update
    3. Cài gói Ubuntu extras, gói này gồm MP3, DVD Playback support; Microsoft Fonts; Java Runtime; Flash Player; and many codecs that are required to play MP3 and DVDs.(OR)

    sudo apt-get install ubuntu-restricted-extras
    4. Cài gói Build Essential:

    sudo apt-get install build-essential
    Nguồn: Internetnet